Khi một người ra đi

1.

– “Ông ngoại mất rồi, các con tự trông nhau. Mai mẹ về đón ba chị em sang chịu tang ông”.

Mẹ hớt hải nói với lại lúc dắt cái xe đạp khung Sài Gòn tự dóng đã tróc sơn lao ra cửa. Chị nó ngơ ngác, rồi vừa giục em đi tắm, vừa đong mì và gạo để nấu cơm.

Đám ma ông ngoại, với nó chỉ là ngày được nghỉ học ở nhà chơi, có rất nhiều người đi lại xăng xái trong nhà; mẹ và các dì mặc quần áo trắng, tóc tai xõa xượi như ma, khóc than bê bết trong khi một đám các ông thổi kèn đánh trống rõ vui. Mẹ quàng một vành khăn trắng lên đầu từng đứa, rồi dẫn mấy chị em vào vái lạy ông. Nó nhảy chân sáo quanh làng khoe bọn bạn cái vành khăn trắng mới tinh, thi thoảng tự hỏi sao ông cứ nằm mãi trong cái hòm dài ngoẵng ấy làm gì.

Cái chết lúc ấy, chỉ là cái hòm dài màu đỏ giữa nhà.

2.

Bà ngoại mất, thanh thản như một bà tiên. Hai bác nó chăm sóc bà chu đáo và đầy đủ. Thi thoảng nó trốn bố sang thăm bà, mua biếu bà cái bánh giò nóng bằng tiền tiết kiệm từ học bổng, và ngồi yên cho bà lần vuốt mái tóc của mình dưới  gốc cây ổi đào mẹ trồng thủa trước.

Bà không chỉ là bà, mà còn hơn cả mẹ. Từ khi mới đẻ, chúng đã được bà chăm bẵm. Mất điện, bà là quạt mát. Ốm đau, bà là y tá. Tối tối, bà ru chúng bằng chuyện cổ tích, ca dao và những bài hát cổ xưa. Quậy phá, bà kẹp đầu từng đứa giữa hai đùi, rồi lấy quạt phết vào mông đau quắn. Mẹ đi xa, bà là mẹ, là mối ràng buộc sâu thẳm của tình mẫu tử, là yêu thương dành dụm, là lọ muối rang, là cái khăn ấm, là bàn tay lần vuốt tóc mềm, là rủ rỉ tâm tình, và những giọt buồn lăn ra từ đôi mắt đục.

Nó không khóc khi bà mất. Đơn giản là nó không thể khóc. Nó căm ghét tất tật những người đang khóc lóc, những điếu văn, những vòng hoa, những nghi thức. Nó hờn giận một người đã không có mặt, nó giận bản thân đã chẳng làm nổi điều gì cho bà, nó đau đớn bởi mất đi mối ràng buộc máu thịt mỏng manh, mất đi hơi ấm yêu thương suốt những ngày thơ dại.

3.

Bà nội bị tắc tĩnh mạch, máu không xuống được để nuôi bàn chân. Bác sĩ bảo bà yếu quá, không tháo khớp nổi, đành để vậy. Những thớ thịt không có máu nuôi, thối dần, bốc mùi tanh khủng khiếp. Tối tối, bố đun lá thuốc cho bà ngâm chân, rồi dùng kẹp gắp đi những mẩu thịt đang thối rữa ra khỏi những hốc cơ lõm sâu ở gót, ở lòng bàn chân. Mùi lá thơm không át nổi mùi tanh tưởi của máu mủ, thịt người phân rã. Tiếng bố dỗ dành không át nổi tiếng bà rên rỉ đau đớn đến thắt tim.

Bà ốm vậy ba năm. Hai năm đầu, khi chân bà mới bắt đầu hoại tử, nó ngủ chung với bà. Mũi nó quen với cái mùi đã khiến hàng xóm không ai bén bảng vào nhà. Bố vừa muốn nó nằm cạnh chăm bà đêm hôm khuya khoắt, vừa thương con tuổi ăn tuổi lớn mà phải chịu cảnh hôi tanh bệnh tật. Năm thứ ba, bố sắm cho nó cái giường một, nằm riêng ở góc nhà ngoài. Nhìn bố nó lắp giường, bà nội không nói gì, chỉ khóc.

Bà mất không dễ dàng sau nhiều tháng đau đớn vật vã. Đã vài lần, bà gọi cả chín người con lại, bắt đi mua thuốc độc tiêm cho mẹ chết. Bố và các cô chú nó vét hết những đồng tiền có được để mua thuốc giảm đau, nhưng cũng chỉ đỡ phần nào. Tám người con trai và một cô con gái xếp hàng dài tiễn mẹ. Những người đàn ông khóc mẹ bằng đôi mắt đỏ hoe không nước mắt. Những người đàn bà sụt sùi lặng lẽ trong gian nhà rộng trang nghiêm. Tất cả đều hiểu, bà đã mong chờ ngày mình yên nghỉ tự rất lâu rồi.

4.

Bố nó chết trẻ, khi ông chưa đầy 53 tuổi, sau 15 năm đấu tranh với bệnh tật để được sống và để nuôi con khôn lớn. Một nửa của 15 năm ấy là thời gian nằm viện, khắp lượt các khoa ở Bạch Mai. Một nửa còn lại là bươn chải kiếm miếng cơm, đồng bạc nuôi con. Mỗi năm, ông thêm kiệt quệ, thời gian nằm viện dài hơn, những cơn đau về dồn dập và dai dẳng hơn. Bệnh tật ăn ruỗng nội tạng, chui vào xương tủy cắn xé cơ thể đã tàn tạ, quắt  queo đen xạm. Đau đớn biến ông thành người nghiệt ngã và khó chịu. Những cơn giận dữ bất thường, những quy định nghiêm nghặt, sự kính sợ tuyệt đối, khiến nhà nó giống trại lính hơn một gia đình. Thế nhưng chị em nó đều hiểu, mỗi đồng tiền có được để đem đi mua gạo, đóng tiền học đều đổi bằng rất nhiều đau đớn và yêu thương của cha và chính chúng là lý do để ông sống tiếp.

Bố mất đúng tháng 7 cô hồn, trời nóng như lò lửa mà âm khí len lỏi lạnh thấu vào trong. Út kiếm đâu được ít tiền, mua hai cây đá mang vào nhà xác bệnh viện, khăng khăng đòi để cạnh quan tài cho bố đỡ nóng. Nó uống rượu, gầy gò và xanh mướt như chính những cái xác đang được đậy lồng nằm đó.

Quan tài bố được đưa đi giữa trưa nắng cháy. Trong tiếng trống kèn inh ỏi là sự im lặng ngột ngạt, là cái nóng hầm hập giằng co với khí lạnh vô hình. Thím nó gào lên: “Chúng mày khóc đi cho bố mày đỡ tủi.”

Im lặng.

Sao phải gào những lời tiếc thương vô nghĩa, khi bố vẫn còn ở lại chừng nào chúng nó còn đang sống. Mà chúng đang khóc đấy thôi. Chẳng nhẽ không ai thấy những dòng đau tràn ra từ ngực, chảy dọc thân như máu đỏ, đọng thành vũng quanh mỗi bước chân xiêu vẹo chúng tiễn bố ra đồng.

Đó là ngày nó không còn sợ chết, bởi nó hiểu rằng cần rất nhiều can đảm để sống, nhất là sống để yêu thương.
 

Rằm tháng Giêng năm Nhâm Thìn

2012

Phạm Việt Hà

Advertisements