Tản mạn cuối xuân

“Bữa ấy mưa xuân đã ngại bay
Hoa xoan đã nát dưới chân giày
Hội chèo làng Ðặng về ngang ngõ
Mẹ bảo: “Mùa xuân đã cạn ngày”- Mưa Xuân- Thơ Nguyễn Bính

Ở những nơi mình từng sống, đều trồng rất nhiều xoan. Đầu xuân, hoa xoan nở thành tán tím nhạt trên cao cùng với hoa tầm xuân hồng từng chùm dưới thấp. Cuối xuân, khi bưởi ra hoa thì hoa xoan bắt đầu tàn, cánh hoa rụng dưới đất thưa dần, đầu cành bắt đầu kết những chùm quả xanh nho nhỏ. Giờ Hà Nội người ta chặt hết cây xoan, tầm xuân cũng chẳng có mấy người trồng, nên chẳng ai để ý là mùa xuân đã cạn.

Trước Hà Nội cũng có nhiều cây táo gai, cành lá xum xuê đan quấn vào nhau, thân xù xì ẩm mốc,đầu xuân nở hoa trắng sữa, cuối xuân đầu hè ra quả trĩu cành, những quả táo chỉ nhỏ bằng đầu ngón tay, ăn vừa chua vừa bột, nhưng bọn trẻ con đứa nào cũng thích chọc quả bỏ túi áo vừa đi học vừa ăn.  Chim chóc thì khỏi nói, mùa táo chín là khi chim sẻ và chào mào ríu rít đầy cành, chành chọe tranh ăn quả váng một khoảng không.

Mình về nhà chồng, ở ngay trong khu gia binh gần bảo tàng Không Quân. Đường đi làm có cây táo già nằm trên vỉa hè gần cổng doanh trại, dẫu gốc đã bị bịt kín bởi gạch xi măng, vỏ cây bong tróc khắp thân, xuân nào cũng vẫn bung lá mầm, đơm hoa kết trái. Mười mấy năm, ngày nào đi qua, mình cũng gật đầu chào bác táo già. Tối bọn trẻ bắt kể chuyện cổ tích, mình toàn bịa chuyện về bác táo già mà kể. Bọn trẻ lớn lên, quên những câu chuyện cũ, quên bác táo già và bầy chim sẻ. Đi ngang, mẹ có chỉ cho xem chúng cũng chỉ vâng dạ cho qua chuyện. Nhưng mình biết, lúc nào đó, chúng sẽ nhớ về một ngày đẹp trời mẹ từng chỉ cho chúng cây táo già cũ kỹ, và những câu chuyện mẹ từng kể cũng sẽ một ngày nào đó trở về.

Sáng thứ Bẩy, đưa con đi học, uống cà phê ở quán vỉa hè ngay cạnh. Quán nhỏ, bàn ghế tuềnh toàng gỗ tạp nhưng cà phê nóng và ngon. Mình chọn một bàn dưới gốc cây bàng non thân ẩm nước mưa, đen sẫm, cành đã nhú nầm xanh nhạt. Khách uống cà phê đều là những người đàn ông trung niên, hầu hết ngồi một mình, ngắm sương cuối xuân lảng bảng lẫn mùi cà phê phin và thuốc lá quyện vào nhau trong sự tĩnh lặng tạm thời của con phố ngủ muộn cuối tuần, tận hưởng khoảnh khắc cô độc hiếm hoi. Những quán cà phê vỉa hè, cái không khí ướt lạnh, mùi khói thuốc Vinataba nặng nồng này, đã rất thân quen từ khi mình lẽo đẽo theo bố ngồi quán cà phê Thái ở Triệu Việt Vương, và sẽ luôn là một phần của phố, của mình.

???????????????????????????????Dạo này phố Hà Nội bán nhiều hoa bưởi, từng xe đạp chở những mẹt đầy hoa bưởi trắng đỗ thành hàng trước cổng trường trung học, góc chợ, phố cũ. Hôm trước chị bạn ở Sài Gòn ra, mình đèo chị đi cà phê, rồi tạt vào mua ít hoa bưởi. Chị bảo, Sài Gòn nắng quá hay sao, mà không thấy hoa bưởi thơm dịu thế này em nhỉ. Những cành hoa bưởi trong sương lạnh thơm dịu dàng như mối tình không được nói ra nhưng cả hai đều biết. Chỉ cần biết là đã đủ, phải không?

Đi làm về mình thường mua hoa bưởi biếu mẹ chồng, quê bà ở Thanh Hóa, mùa này hoa bưởi thơm nức đường làng, cánh hoa rụng trắng mái dạ. Bà cẩn thận bày hoa trên những đĩa sứ nhỏ để trong phòng khách, trên kệ dọc cầu thang,  bà hẳn nhớ quê xa lắm. Nhà chú chồng mình ở Sóc Sơn có cây bưởi do ông bà nội trồng đã hơn bốn chục năm, cây già mục hết nửa thân nhưng nửa thân còn lại  vẫn đều đặn trổ hoa mỗi dịp cuối xuân. Về quê mùa hoa bưởi, trèo lên mái, ngồi dưới tán cây, mải mê ngắm những mảnh vườn, khoảng sân, rặng cây phía xa, thấy mình cũ kỹ hoài cổ đến không thể nhích chân tung cánh tự do, nhưng cũng thấy an ổn bởi thực sự thấy mình thuộc về nơi này, là một phần của mảnh đất này.DSC09557

Chồng mình hôm trước cười cười “Em thích gì là mê mải, yêu ai là chết đi sống lại. Nên cẩn thận đấy nhé, anh nhất định không muốn mất em đâu.” Cả mình và anh đều biết rằng mình thích thứ gì không dễ, nhưng đã thích thì vô cùng khó bỏ; mình cũng không dễ yêu một người, nhưng đã yêu thì khó có thể tách rời. Mình với thành phố này cũng vậy.

Phạm Việt Hà

Tháng 3 năm 2014

Advertisements

Người đứng lớp

Policies come and go, teachers are those who stay in the classroom!

Cách đây hơn chục năm, mình làm cho một dự án của Úc. Chương trình chọn ra những giáo viên trẻ xuất sắc ở các trường cao đẳng sư phạm, đưa họ lên Hà Nội học ba tháng về phương pháp, rồi theo học viên về trường, cùng làm giáo án, dự giờ, thao giảng để giúp họ áp dụng phương pháp mới. Về trường, nhìn những dãy lớp học mái ngói dột tong tỏng ngày mưa, khu tập thể giáo viên ba người một phòng 6 mét vuông tuyền toàng, bữa cơm đãi cô chỉ có đĩa cá nục kho mặn một khúc ăn ba bát cơm mới hết, thấy đắng trong lòng. Vậy mà vẫn những người lam lũ ấy, lên lớp là hát, là nhảy múa, là tô màu vẽ tranh, đóng kịch. Chỉ có bảng với phấn, mà lớp học hào hứng, tiết học hiệu quả. Họ làm được thứ nhiều giáo viên học đủ thứ lý thuyết tây ta không làm được là khiến những học sinh nghèo tạm quên cảnh nghèo mà hào hứng học, là để lại mọi nhọc nhằn đắng cay bên ngoài lớp học mà trọn tâm trọn sức dạy học trò, là hóa thân thành bất cứ học liệu nào còn thiếu mà dạy học.  Thế mà đang dạy, ông hiệu phó đi ngang, ngó đầu vào quát “Học gì mà ồn thế, chả có tí kỷ luật nào sất. Không thấy các lớp bên cạnh người ta im phăng phắc hả?” Cả thầy lẫn trò lặng hẫng, cả đời này mình không quên được nét mặt thầy giáo đang dạy lúc bấy giờ.  Mình tự hỏi, thầy giáo ấy sẽ giữ được nhiệt huyết bao lâu nữa, hay chỉ vài năm sau sẽ lại ngồi im thít sau bàn, cầm quyển sách lên mà ê a lười biếng theo cách cũ.

Cuối năm ngoái, mình tham gia trình bày tại một hội thảo quốc tế về đổi mới giảng dạy tiếng Anh ở một tỉnh miền núi phía Bắc. Ban tổ chức có ý mang hội thảo về vùng xa để giáo viên địa phương được tiếp cận với phương pháp giảng dạy mới. Diễn giả tám phần mười là giáo viên các trường đại học lớn trong cả nước, ra trường là đi làm ở thành phố lớn, rồi đi học thạc sĩ tiến sĩ ở nước ngoài. Các diễn giả (trong đó có mình) trình bày về đủ thứ thời thượng, từ cách dùng phần mềm mã nguồn mở để tạo lớp học điện tử đến những nghiên cứu khoa học về chính sách ngôn ngữ thời hội nhập. Giáo viên đến dự đa phần dạy ở các huyện miền núi, học sinh người Kinh thì ít mà học sinh dân tộc thì nhiều, điện không có mà sách vở cũng hiếm. Ra khỏi phòng, họ ngơ ngác hỏi “thế không có cách nào dạy tốt mà chỉ cần phấn với bảng, không cần điện hả cô?”. Mình nghe xót xa vô cùng, xấu hổ vô cùng. Lỗi không phải ở diễn giả, cũng chẳng phải ở giáo viên. Lỗi ở chỗ ta vẫn cứ bắt người dân tộc kéo đàn violon, bắt dân miền xuôi mặc áo phông trắng đi chân đất leo núi tai mèo. Dù có ý tốt mang cơ hội học tập về cho giáo viên ở vùng xa, những gì ta mang cho họ lại chẳng phải thứ họ cần hay dùng được.

Ba năm nay mình đi dạy cho một chương trình học bổng dành cho học sinh vượt khó ở Hưng Yên và Hải Dương. Thầy trò dù đã cố gắng rất nhiều,  nhưng hai lần thi học bổng do Đại Sứ Quán tổ chức, nhóm các em ở vùng xa đều không được chọn, các em ở các thành phố lớn vẫn trội hơn. Cô bạn mình làm cho một trường đại học nước ngoài về tìm học sinh để trao học bổng, đến gặp mình xem có ai trong nhóm các em đạt được tiêu chí của trường, vì cô rất mong mang cơ hội đến cho các em. Mình xem kỹ, đành lắc đầu thật buồn, bởi các em còn cách rất xa những yêu cầu đầu vào của họ. Lỗi không ở học sinh. Các em sáng đi học chiều đi làm đồng, còn bị dằn vặt bởi đủ buồn phiền lo lắng của hoàn cảnh trớ trêu. Với các em, được tiếp tục đi học đã là niềm hạnh phúc, học đủ để đỗ đại học trong nước đã là mơ ước của cả dòng họ, nói gì chuyện tiếng Anh tiếng Mỹ, mơ gì được ra nước ngoài. Lỗi không phải ở học bổng, bởi dù gì thì người ta đều phải chọn người đủ năng lực theo tiêu chí đã đề ra. Chỉ là khoảng cách vùng  miền xa quá, có cố thế nào, cũng không thể bù đầy trong ngày một ngày hai.

Nhớ lại ngày mình bước chân vào trường đại học cũng là ngày đầu tiên được nghe tiếng Anh bản ngữ từ băng cát-sét. Còn đang luống cuống với môi trường mới, chả biết bấm cái cát-sét thế nào cho nó chạy, các bạn cùng lớp vốn toàn học sinh chuyên ngữ và Amsterdam lên đã nghe nói vèo vèo, đã kể tên đủ loại giáo trình nước ngoài từng học, tán phiếm về những ca sĩ nước ngoài lạ hoắc và những bài hát tiếng Anh mình chưa từng được nghe. Cả năm học đầu tiên là những bước học đuổi nhọc nhằn để bắt kịp các bạn. Đấy là mình sinh ra ở Hà Nội, những bạn khác từ tỉnh xa lên học, chắc còn khốn khổ hơn mình.

Cách đây mấy năm, mình ăn cơm với cô bạn cũ tên Phương. Khi nói về những thay đổi sẽ xảy ra khi nền kinh tế đi lên, Phương  kể về một mô hình có tên là “cái thúng”. Nói nôm na, nền kinh tế-xã hội của mình hiện giờ giống như một cái thúng, mà những người có khả năng tiếp cận với các nguồn lực hay hưởng lợi từ phát triển kinh tế nằm ở vành miệng thúng, còn người yếu thế, người nghèo nằm ở đáy thúng. Nếu không được điều tiết, kinh tế càng phát triển, miệng thúng càng cao lên, thì khoảng cách từ miệng thúng tới đáy thúng càng cách xa, khoảng cách giàu nghèo ngày càng giãn rộng.

Khoảng cách vùng miền, khoảng cách giữa các nhóm yếu thế và những người đang hưởng đặc quyền trong giáo dục xa quá, nên những người ở đáy có chật vật mấy cũng khó lòng trèo lên được miệng cái thúng cao vời vợi. Khoảng cách ấy lại không được ta quan tâm cho đầy đủ, để những đồng tiền đáng ra được đưa đến với người khó để đôn cái đáy thúng lên thì chạy vào túi người thừa. Khoảng cách giữa mức độ nỗ lực của những giáo viên ngày ngày đứng lớp và những người đút chân gầm bàn làm chính sách xa quá, đến nỗi chính sách đưa ra sai nhiều và sai nặng. Khoảng cách giữa quyền lực mà một người được nắm với năng lực và trách nhiệm của người ấy nhiều khi xa quá, đến nỗi không quản được những người những việc dưới quyền, để xảy ra biết bao chuyện bi hài không đáng có. Khoảng cách giữa hành vi sai trái và sự trừng phạt xa quá, đến nỗi cấp trên bày cho cấp dưới làm bậy, đến nỗi những khoản phần trăm lại quả được coi là chuyện đương nhiên.

Vừa rồi nghe trong thành phố Hồ Chí Minh định nhập khẩu giáo viên tiếng Anh người Philipines với mức lương 2000 đô la mỗi tháng vì giáo viên họ có trình độ tiếng Anh hơn hẳn giáo viên Việt Nam. Chị bạn mình, giờ là đại diện khu vực về chuyên môn cho một tổ chức khảo thí quốc tế bảo “Cứ trả lương theo năng lực, có ma trận lương cho thật rõ ràng, bình đẳng cho cả tây lẫn ta, sẽ có đầy giáo viên Việt giỏi hơn giáo viên Philipines nhiều. Sao nỡ kỳ thị người giáo viên trên chính lớp học của mình, trên chính mảnh đất tổ quốc mình đến thế.”

Hôm trước đi hỏi thi ở Nam Trung Bộ, mình gặp một thí sinh lớn tuổi và một thí sinh trẻ tuổi, trông xuyền xoàng lam lũ nhưng làm bài thi rất tốt. Cô giáo phụ trách khóa bồi dưỡng kể, hai người  dạy tại hai trường dân tộc miền núi khác nhau đều cách thành phố khoảng 60 km. Thầy giáo lớn tuổi nói thông thạo hai thứ tiếng dân tộc, đã dạy gần ba chục năm ở trường. Thầy giáo trẻ để vợ con ở nhà lên trường dạy, một tuần về nhà một ngày, tuần dạy 28 tiết vì cả trường chỉ có một thầy giáo tiếng Anh. Cả hai người ấy bền bỉ lên núi dạy học mỗi tuần, bền bỉ học cho giỏi thứ tiếng họ dạy, bền bỉ trụ với học sinh mà chưa từng được bất cứ danh hiệu gì của ngành giáo dục. Mình nhìn các thầy lặng lẽ ra bãi lấy xe về trường lúc mặt trời đã lặn, tự thấy xấu hổ cho mọi thứ danh hão của nghề dạy học. Nghe chuyện về các thầy, tự thấy xấu hổ bởi mình đang được hưởng nhiều quá những ưu đãi mà vẫn cho là chưa đủ, nhủ lòng mình hãy cứ cần cù bền bỉ, cứ dạy cho thật tốt, cứ tình nguyện làm những việc người khác chẳng muốn làm, cứ cố giữ được mình như mình vốn có.

Bởi nói cho cùng thì những người thầy mới là người đứng lớp mỗi ngày.

Phạm Việt Hà

Tháng 3 năm 2014

Đôi bàn tay

DSC03239

“Gia tài em chỉ có bàn tay,

Em trao tặng cho anh từ ngày ấy,
Những năm tháng cùng nhau anh chỉ thấy
Quá khứ dài là mái tóc em đen.”

Thơ -Xuân Quỳnh

Mình có đôi bàn tay rất xấu: to ngang, xương và cứng, móng tay từ bé đến giờ lúc nào cũng cắt ngắn sát da. Hội bạn bảo, bắt tay bà chẳng khác gì bắt tay đàn ông, thô bỏ xừ. Mới bốn mươi tuổi, da đã chấm đồi mồi xen lốm đốm vết bỏng dầu ăn bắn lên lúc nấu nướng, tay mình đúng là không đẹp, nhưng mình thương nhất chính là đôi bàn tay ấy.

Hồi bé, bố dạy làm những việc thường chỉ bọn con trai được dạy,  bàn tay mình chai sần khùng khuỳnh cứng đanh, cầm kim khâu thì vụng mà bổ củi thì nhanh, oánh nhau không sợ nhưng nấu nướng thì lúng ta lúng túng. Buổi tối, thay vì gánh nước từ vòi công cộng về đổ vào bể trong nhà, mình cứ hai tay xách hai thùng lớn chạy băng băng. Đôi bàn tay mình quen làm việc nặng trước khi biết khéo léo việc nhà, học tự vệ trước khi biết yêu thương vun vén.

Mười bẩy năm làm mẹ, tay mình giờ thoăn thoắt việc nhà, không nề hà nặng nhẹ. Con trai rồi con gái đều rất thích gối đầu lên cánh tay trái, lồng bàn tay bé xíu vào tay phải của mẹ mà ngủ suốt đêm. Bàn tay mẹ giữ ấm tay con, cánh tay mẹ bao bọc cơ thể con, như thân lớn nối cành cây nhỏ, mẹ đi đâu cũng da diết nhớ. Bọn trẻ lớn rồi, cũng đã ngủ riêng, thế mà nhiều khi nửa đêm còn chui sang rúc vào xin ngủ cùng với mẹ, vẫn gối đầu lên cánh tay, vẫn nắm chặt bàn tay, áp mặt vào ngực mẹ hít hà. Bàn tay mẹ, không chỉ là một phần của mẹ, mà là yêu thương, ôm ấp mẹ cho con. Những đứa trẻ lớn lên, có bao giờ quên đôi bàn tay chai sần tảo tần của mẹ, có bao giờ quên cánh tay mẹ ôm con những đêm lạnh, quạt mát cho con những ngày hè.

Tình cờ được xem bức ảnh bàn tay ba cha con đâu đó, bàn tay cha dài mảnh xương gầy, bàn tay hai con nhỏ hồng xinh xắn ở bên. Bàn tay người cha, cũng thương yêu ấp ủ con mình như mẹ, cũng lần hồi kiếm sống, lặn lội lo lắng tìm kiếm tương lai, bàn tay cầm bút dạy con học chữ, cầm sách dạy con chuyện đời. Bàn tay mang bánh mì cơm gạo về nhà, chèo chống lúc khó khăn, đảm đương việc nặng, cầm lên mạnh mẽ và đặt xuống nhẹ nhàng. Những đứa trẻ lớn lên, có nhớ đôi bàn tay cha nâng đỡ, có nhớ hai cánh tay cha từng là chỗ dựa.

13435290_10153903104923371_7031882342204350937_nBàn tay bà ngoại và mẹ mình cũng đều ngắn và to, cũng lốm đốm đồi mồi, móng cắt cụt sát da, mềm và rất ấm. Những lúc nhớ bà nhớ mẹ, mình nhớ nhất đôi bàn tay họ, đôi bàn tay cả đời làm lụng chăm lo cho người khác nhưng chẳng mấy khi tự chăm sóc cho mình. Bàn tay bà xoa lưng những hôm đau ốm, bàn tay mẹ chải đầu bắt chấy, tết tóc cho con dưới dàn hoa tầm xuân trước sân nhà, tắm táp cho em trai mình trong chậu nước bên giếng, mở tung cửa sổ cho nắng ùa vào những sáng thứ bẩy mùa hè thơm mùi sen trắng, lúc nào cũng rất dịu dàng, lúc nào cũng như thể vừa mới hôm qua.

Những bàn tay, dù là đàn ông hay phụ nữ, đều cần một bàn tay để nắm lấy tay, bù đắp, an ủi, giữ ấm cho  nhau. Hai cánh tay, dù mạnh hay yếu, đều là để giang ra che chở, ôm ấp cho người họ yêu thương. Những đôi bàn tay mình yêu quý, giống như mắt nhìn, giọng nói, miệng cười hằn sâu vào ký ức, không bao giờ rời khỏi trái tim mình.

Phạm Việt Hà

Tháng 3 năm 2014

(Bài viết cho tạp chí Tư vấn và Tiêu dùng số tháng 5 năm 2014)

I am like………

Mình dạy cho bọn trẻ về metaphors (phép ẩn dụ, phép so sánh) trong tiếng Anh qua bài thơ “Mother to son”. Cuối buổi, mình bảo bọn trẻ hoàn thành câu “I am like + metaphor” hoặc “My life is like +metaphor” và giải thích tại sao chọn so sánh mình/cuộc sống của mình với vật/ sự vật đó. Dưới đây là một số câu mà bọn trẻ đã viết:

  • “My life is like a ball. Sometimes it gets kicked, sometimes it flies high, sometimes it rolls on the dirt but sometimes it hits someone on the face.”
  • “I am lịke a tiger in the cage. I feel so strong but powerless because I am tightened by so many rules to follow, work to be done, things to care about, people to respect.”
  • “I am like a machine, so accurate and sophisticated. Often it works, but sometimes it doesn’t.”
  • “I am like a cat. I look slow and lazy, but i am actually strong and tought when I have to catch my prey.”
  • “I am like a chocolate, dark and bitter. Those who don’t like it will never like it. But those who like will always love it.”
  • “My life is like a race, I have to aim well and try hard to win.”

Mình đã rất suy nghĩ khi đọc, đặc biệt trong đó có một câu do con trai mình viết. Nếu con cái là tấm gương phản chiếu cha mẹ và những gì họ kỳ vọng, thì những gì chúng viết có làm ta đau lòng? Bởi có ai muốn con mình là máy móc, là hổ bị nhốt trong lồng hay trái bóng đá dưới chân. Bọn trẻ, tưởng là vẫn trẻ con nhưng thực ra nhạy cảm và cũng già dặn hơn ta tưởng rất nhiều. Còn chúng ta đã làm gì để hiểu chúng nhiều hơn?

Phạm Việt Hà

Gloss Mind

  Năm 1994, mình bỏ công ty của Đài Loan, sang làm nhân viên đầu tiên của văn phòng đại diện công ty Gloss Mind Casual Wear Limited ở Hà Nội, công ty sản xuất thuộc hãng thời trang Giordano Holdings (Hongkong). Công ty mình nhận hợp đồng của các hãng lớn và các công ty phân phối thuộc tập đoàn rồi mang sang Việt Nam gia công (chỉ làm hàng dệt thoi thôi). Áo sơ mi thì làm ở May 10, áo jacket và quần làm ở Textaco và May Đáp Cầu, đồ jeans và hàng giặt thì làm ở liên doanh 19 tháng 5 (vì họ có xí nghiệp giặt tốt nhất tại thời điểm đó).
  Mình được tuyển hôm trước, thì hôm sau sếp về Hồng Kông, giao tiền cho mình ở lại sắm đồ nội thất văn phòng đại diện, đăng tuyển các vị trí kỹ thuật, liên hệ với khách hàng và đọc cho thuộc bộ thuật ngữ (có hình ảnh minh họa) về kỹ thuật may. Lúc đó mình chưa đầy 20 tuổi.
   Mười ngày sau sếp Dave Cheng quay lại, bắt đầu tập huấn mình, từ tên các bộ phận của áo sơ mi, quần âu, áo jacket, cách đọc bản vẽ, cách kiểm tra thông số kỹ thuật trên mẫu đối so với bản vẽ. Đi xuống nhà máy, Dave lại hướng dẫn mình cẩn thận trên thực địa, chỉ tận tình cho mình từ máy này làm gì, công đoạn nào, QC ở đâu. Sau hai năm làm trợ lý cho sếp, bọn mình có 1 văn phòng 13 nhân viên Việt Nam với 8 người làm QC và mình phụ trách hợp đồng, hành chính, quản trị. Quần áo mình mặc, đều là mẫu đối của công ty sau khi hoàn thành hợp đồng cho nhân viên sử dụng.
   Hai năm làm việc cho Gloss Mind, mình sáng đi học, chiều đi làm, nhiều khi đến chín mười giờ tối mới từ nhà máy về đến văn phòng. Đêm học bài và làm nốt việc cơ quan, sáng lại dậy sớm vào trường đi học. Hai năm đó,  mình được sếp cho đi học về xuất nhập khẩu và quản trị kinh doanh, theo sếp lăn lộn từ nhà máy này sang nhà máy khác mỗi ngày, chứng kiến cảnh công nhân nữ làm tăng ca ngất trên chuyền sản xuất, hiểu được giá trị đồng tiền mà mình kiếm được, hiểu được thế nào là bóc lột và bị bóc lột.
   Năm 1996, mình xin thôi việc để tập trung ôn thi tốt nghiệp. Năm 1997 khủng hoảng kinh tế. Năm 1998 văn phòng đại diện tại VN bị đóng cửa.
   Sếp mình là dân thiết kế thời trang, học ở Hongkong Polytechnics ra. Sếp rất quý mình, nhưng toàn mắng “Cô biết về thời trang, tôi dạy cô kỹ thế mà ăn mặc tùy tiện.” Sau này, mình vẫn tùy tiện vậy, phần vì bản tính lười nhác, phần vì mình không trọng hình thức (điều này mình biết là sai), nhưng ít nhất không bao giờ mình đi boot da với juyp và vét đi làm. Đi mua đồ, lật mặt trong cái áo, nhìn mũi chỉ vẫn biết mật độ mũi có phù hợp với chất vải không, rà tay trên áo, biết áo được giặt công nghiệp bằng sỏi loại nào và có dùng chất làm mềm không, nhìn vải biết là 100% cotton, vải 100% arcrylic fiber, vải lanh hay là vải 35-65. Mình cũng rất ít khi bị thương hiệu đánh lừa mà mua một sản phẩm chất lượng tầm thường giá xịn, và hiểu được phần nào bản chất của ngành thời trang màu mè lấp lánh được xây trên đầu người công nhân lương thấp lao động dài giờ  trong chuyền sản xuất. Những thứ đó, đều là do 2 năm làm cho Gloss Mind mà có.
Hôm nay đúng là ngày mình thi vào Gloss Mind 20 năm trước.
Like ·  · Share