Lời ru

Mưa sụt sùi, cơn mưa lạnh rí rách đầu tiên của mùa Đông. Trời lạnh đủ để phải đắp một cái chăn mỏng, nhưng không quá lạnh để gọi là rét. Nhà bên mới dọn về một gia đình trẻ có cậu con trai nhỏ hay khóc quấy vào lúc khuya muộn. Mình thính ngủ, nên thường bị tiếng khóc của cậu bé làm thức giấc. Trằn trọc, tự nhiên thèm hát ru con.

Bà ngoại bảo mình khó ngủ từ bé, bà và mẹ toàn phải vừa xoa lưng vừa ru dỗ ngủ. Lớn rồi, mình quen cái quạt nan phẩy qua phẩy lại trong đêm hè, quen bàn tay mềm và ấm xoa lưng xoa đầu những đêm đông, và tiếng mẹ à ơi theo nhịp dài và chậm “Con cò mày đi ăn đêm, đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…”. Mẹ sinh em trai, mình phải ra ngủ với bà, đến lượt em trai được mẹ và bà ru ời từ trong nôi đến khi lẫm chẫm. Đêm đêm, rúc mặt vào ngực bà, mình nghe mẹ ru em ấm áp ở phòng trong “Cái bống là cái bống bang…” , lời ru chầm chậm kéo mi mắt xuống, à ơi dỗ ngủ cả cho mình, những cánh cò đồng lúa và cả con bống con bang theo mình vào giấc ngủ, theo mình đến tận bây giờ.

Ban ngày mẹ phải đi làm, bà tranh thủ cơm nước dọn dẹp, giao mình trông em bé. Thế là mình cũng vừa đẩy nôi em vừa hát à ơi, nhịp nọ xọ nhịp kia, bài này xiên sang bài khác, những lời ru đầu tiên mình học từ bà và mẹ “Cái ngủ mày ngủ cho ngoan, để mẹ đi cấy đồng xa chưa về….”. Say sưa hát cả buổi , quay ra thấy bà ngoại ngồi ghế đẩu khâu cái áo cũ, răng đen bỏm bẻm nhai trầu, nhìn cháu cười tủm tỉm.

Nhiều khi nghe mẹ ru em, mình biết mẹ đang buồn hay mệt, giọng mẹ trùng xuống buông xuôi mệt mỏi, nhịp ngắt lúc ngắn lúc dài không đâu vào đâu, cả lời ru cũng buồn rười rượi, nghe có tiếng thở dài thật khẽ lẫn trong lời mẹ hát ru. Những lúc ấy mình nghe bà cựa mình khe khẽ,  lần tay vuốt tóc mình trong bóng tối, vỗ vỗ lên lưng mình nhè nhẹ. Nhiều khi mình có cảm giác bà và mẹ nói chuyện với nhau, nói chuyện với bản thân, than thở những chất chứa trong lòng bằng lời hát ru con ru cháu, bằng những tiếng động rất khẽ, rất chậm trong đêm. Lời ru, chỉ đàn bà mới thấu, bởi lời ru là tiếng lòng gan ruột của đàn bà.

Mình nuôi hai đứa trẻ theo kiểu truyền thống, tức là bú sữa mẹ là chính, sữa bột là phụ, chẳng biết gì nhạc giao hưởng, chỉ toàn à ơi hát ru à ơi ấp ủ. Nhiều lúc thấy mình rõ lạc thời, nhưng nhìn bọn trẻ lớn lên vui vẻ hiền hậu, tự nhủ vậy cũng chẳng sao. Con gái mình hồi nhỏ giống mẹ, khó ngủ và hay thức giấc nửa đêm, thích rúc vào ngực mẹ và thi thoảng đòi mẹ hát ru dỗ ngủ. Mình lại vỗ về ru con, hát lại những bài hát xưa mẹ và bà hay hát. Mẹ ru con, tự ru cả mình vào giấc ngủ cùng con.

Giờ cả hai đứa đều đã cao hơn mẹ, nhạc chúng nghe mình không nghe nổi, cũng chẳng thấy chúng đòi mẹ hát ru như ngày xưa nữa. Nhiều lúc mình tự hỏi, không biết chúng có còn nhớ lời mẹ hát ngày xưa, hay chỉ mẹ chúng mất ngủ nằm nhớ những lời ru xưa cũ.

Biết đâu, khi đã thành người lớn, bọn trẻ bỗng nhớ những lời ru.

Phạm Việt Hà

Tháng 10 năm 2014

946585_10151482971123371_1449703050_n

Advertisements

Dao cùn (older but no wiser!)

“Con dao cùn mài trên sống đá

Đá bây giờ lại sắc hơn dao” -Hồng Chinh Hiền

Hồi còn bà ngoại, đầu giường bà mình lúc nào cũng để sẵn cái chầy nhỏ và cái mâm đồng. Nhà toàn đàn bà trẻ con, bên là sông Tô Lịch, bên là bãi cát trống giữa đồng không mông quạnh, bà bảo nếu thấy động, phải cầm ngay chày gõ thật lực vào cái mâm, vừa gõ vừa hô hoán thật to để trộm nó sợ. Về ngõ chợ Khâm Thiên, bố phải đi làm xa nhiều, dặn ở nhà nếu đêm có trộm thì giả vờ ngủ say không cựa, cấm được hô hoán. Người ngõ chợ cùng đường mới dám ăn quẩn của bà con trong ngõ, cứ nằm im cho chúng lấy, không lại mất cả người. Bố bắt mình tập đi tập lại mấy miếng võ đánh–và–chạy lỡ khi bị bắt nạt, còn dặn dò kỹ những việc tuyệt đối không được làm, người không nên gặp, nơi chớ bén bảng, giờ không được đi, thứ không ăn uống. Thi thoảng, ông lặng lẽ đi theo con những sáng mùa hè mình đưa lũ trẻ trong xóm ra công viên tập nghi thức đội hay những tối mình đạp xe ra ngõ Hạ Hồi ôn thi đại học, để xem con gái có biết đi đứng theo đúng lời bố dặn hay không.

Những năm tháng ấy, mình  dần ý thức được việc phải biết bảo vệ bản thân, nhưng bản năng tự vệ của mình không hề mạnh hơn, ngược lại mình dần đỡ sợ hãi hay kỳ thị những người bị gọi là bần cùng xã hội, đầu gấu quân khu, ít khi tham gia vào những chuyện thị phi, không hay phán xét người khác, và tuyệt không hứng thú đóng vai anh hùng. Những trải nghiệm, dạy mình chống đỡ thì ít dạy mình hòa nhập thì nhiều.

Ra trường, mình đi dạy học, chuyển về nơi ở mới, môi trường làm việc được coi là thuần, nơi mình sống được coi là an ninh tốt. Mình sống yên ả ngày này qua tháng khác. Cả nhà gọi mình là Bờm vì mình khờ khạo, ai nhờ gì cũng làm, ai nói gì cũng tin, ai khen cũng gật gù sung sướng. Những gì đã học được qua năm tháng ở nơi đầu ga góc chợ dần phai nhòa đi, phần còn lại chỉ đủ để mình đem ra kể chuyện mua vui, không đủ để bảo vệ mình khi hoạn nạn. Có lần mẹ mình lo lắng bảo “Mẹ có ba đứa, thì lo nhất là con. Từng đấy tuổi, qua bao nhiêu chuyện rồi mà cô vẫn thật thà ngu ngơ quá, cảm tính quá, lại đa sầu đa cảm.” Mình nghe mẹ nói mà thương, đành an ủi bà rằng mình đã ổn qua bao nhiêu chuyện, rồi cũng sẽ ổn nếu có chuyện xảy ra.

Nhiều lúc mình băn khoăn, có phải tại mình ngu đến mức không thể học để trưởng thành. Hình như mình không ngu đến thế, bởi mình vẫn biết phải trái đúng sai, vẫn biết ai yêu mình ai thương mình thật sự, chỉ là bản tính của mình bảy phần đa cảm, hai phần nông nổi, một phần nhu nhược. Chỉ là mình không nỡ nhìn thấy người cần mà không giúp, nên thà bị lừa còn hơn áy náy; không thể cầm lòng khi thấy một đứa trẻ khóc, không thể không an ủi khi ở cạnh một người đang đau khổ, dẫu biết chính người ấy có thể đã làm nhiều điều không phải với mình, chỉ là mình không thể ngoảnh mặt đi trước một việc mình có thể làm dù không có lợi, chỉ là không thể không ở cạnh người mình yêu. Bản tính ấy mạnh hơn cả lý lẽ lẫn giáo dục, nên có sửa cũng chỉ được một hai phần, tám chín phần còn lại hối thúc mình làm những điều mà cả bản thân mình và người khác coi là ngu ngốc.

Hóa ra mình sống ngờ nghệch thế, bởi vì mình thấy thoải mái nhất khi chỉ là một phụ nữ khờ khạo đúng bản chất của mình, bởi mình thà chịu thua thiệt, tổn thương hơn là làm trái với bản tính của mình. Mình cũng hiểu, dù có cố điềm tĩnh mạnh mẽ, thì cũng chỉ được cái vỏ cứng còn bên trong lại cũng vẫn mềm. Mình có cố tạo ra các lớp áo bảo vệ, có cố xây thành quây rào thì cũng  không bảo vệ được mình khỏi mọi phiền toái, nhất là những phiền toái xuất phát từ bản thân. Nên mình chấp nhận là kẻ khù khờ như mình thế, chấp nhận việc mình có thể bị tổn thương để được sống đúng với mình, rồi thì những phiền toái cũng sẽ qua và mình sẽ ổn.

Thôi thì cứ hăm hở, cứ ngu ngơ mà sống vậy thôi.

(Bài này cũng là phần ngu ngốc đang đứng bào chữa cho phần nông nổi.)


DSC00071

Phạm Việt Hà

Tháng 10 năm 2014

Ngoại kiều ở Hà Nội

Năm 2007, tôi bỏ trường đại học ra làm cho một trung tâm ngoại ngữ nước ngoài tại Hà Nội. Một trong những công việc phải làm là tuyển dụng và quản lý giáo viên bản ngữ. Giáo viên của tôi mỗi người mỗi tính, mỗi quốc tịch, mang theo những vết thương và hy vọng từ đất nước mình sang Hà Nội. Để quản được họ, tôi không chỉ phải hiểu rõ năng lực chuyên môn của họ, mà còn cố hiểu cái gì trong họ đang hoặc đã đỗ vỡ, và họ đang tìm kiếm điều gì. Và dù kiên trì nguyên tắc không kết bạn với đồng nghiệp đang cùng làm việc, tôi trở thành bạn lâu dài của nhiều người khi không còn làm việc với nhau, có lẽ bởi ít nhất họ biết tôi hiểu họ nhiều như họ hiểu tôi.

Sau gần 8 năm làm việc, tôi có dịp chứng kiến một số giáo viên của mình tìm lại được niềm hy vọng, hạnh phúc và cuộc sống mà họ từng đánh mất ở quê hương. N dành đủ tiền để có thể đi làm tình nguyện cho một tổ chức phi chính phủ ở Lào suốt 3 năm, dựng lên một mái trường từ nền bãi mìn chiến tranh, quét vôi tường nhà, đóng bàn dựng bảng, dạy học, thi thoảng về Việt Nam nhờ bạn bè gom góp sách vở mang cho bọn trẻ. Trường chạy ngon lành, N trả lại trường cho tổ chức NGO địa phương quản lý, lại về Việt Nam đi dạy học thuê, không quên mang cho mỗi bạn bè một cái áo phông ghi công đã giúp trường lúc khó khăn. B and S chung tiền mở một nhà hàng. Một người đi dạy học, một người ở nhà làm đầu bếp, quản lý nhà hàng và viết báo về ẩm thực Việt, họ định cư hẳn ở Việt Nam, chỉ thỉnh thoảng về quê thăm bố mẹ. H lấy vợ Việt Nam, trở thành giáo viên dạy giỏi có tiếng, say mê chăm con, chiều thứ 6 uống bia hơi với bạn, sáng sáng tập chạy marathon. Họ tạo dựng lên một cộng đồng khăng khít những ngoại kiều Hà Nội, và dần hòa nhập với cuộc sống ở Việt Nam.

Tuần trước đưa con trai đi thi SAT ở một trường quốc tế, thấy đến tám mươi phần trăm học sinh cùng thi là người Hàn và Trung quốc. Hiện tại, ngoài các trường học thuộc Đại sứ quán như trường THPT thuộc Đại sứ Quán Nga, trường Pháp ngữ Alexandre Yersin vốn đã có từ lâu, Hà Nội đã có thêm trường Nhật ngữ (the Japanese School of Hanoi), trường Hàn Quốc (the Korean International School in Hanoi) dành cho con em ngoại kiều các nước này học tập. Chỉ nhìn số lượng học sinh đông đảo của các trường, có thể thấy số lượng đáng kể những gia đình đã đến Hà Nội sinh sống hoặc được tạo nên từ những cặp vợ chồng đa quốc tịch. Cứ nhìn những dãy nhà hàng Nhật ở khu vực Kim Mã-Liễu Giai- Đào Tấn, nhà hàng và khu chung cư toàn người Hàn ở Trung Hòa-Yên Hòa, khu nhà ở cho “Tây trắng” ở Tây Hồ, có thể thấy những khu phố Ngoại Kiều đang dần hình thành và phát triển.

Tôi biết một bác cựu binh Mỹ, một nhà báo của tờ LA Progressive, người đấu tranh bảo vệ nạn nhân chất độc da cam của Việt Nam đến độ bị coi là thân cộng, một người đã dám sang Việt Nam khi Mỹ đang cấm vận, yêu Việt Nam vì thương người Việt. Tôi biết vợ bác, một nhân viên của trường John Hopkins đã lặng lẽ theo chồng suốt chặng đường yêu quý và hàn gắn một đất nước xa xôi như hành trình tự chữa lành bản thân. Năm ngoái bác bảo tôi, bác sẽ làm một bộ phim về những người Mỹ sang Việt Nam để tìm lại cuộc sống của mình, những American dreams theo một nghĩa rất khác. Tưởng nói chơi, hai bác hì hụi về nước viết kịch bản, vận động xin tiền. Thỉnh thoảng lại viết thư thông báo công việc đã làm được đến đâu. Người đàn ông ấy, yêu quê hương tôi hơn nhiều người Việt.

Sáng nay tôi tranh thủ cuối giờ làm đi thăm vợ chồng anh bạn. Anh chị vừa từ Anh về sau đám tang mẹ anh. Tôi qua chia buồn, ngồi chuyện trò với anh chị dăm phút chuyện nhà, chuyện về bạn bè chung, về anh chị. Anh vốn là giáo viên cũ của tôi, giờ anh chị đã có cả một công ty du học và một trung tâm ngoại ngữ có mô hình nhỏ nhưng hoạt động cực kỳ hiệu quả. Anh coi Việt Nam như quê mình, và chị có thêm quê hương thứ hai nơi chồng mình đã sinh ra.

Các cụ có câu “đất lành chim đậu”, những ngoại kiều đến Việt Nam hẳn vì có cơ hội cho họ ở đây và chắc chắn họ cũng mang đến cho ta rất nhiều những điều mới mẻ. Bạn bè tôi đang sống ở nước ngoài cũng vậy, hẳn đã chọn sống ở nơi họ tới bởi cơ hội có được điều quan trọng mà họ muốn, và hẳn họ cũng đang mang đến cộng đồng nơi họ sống cơ hội để hiểu Việt Nam hơn. Quê hương không chỉ là nơi ta đã sinh ra, còn là nơi đã cho ta cơ hội có được cuộc đời tử tế và cưu mang ta những lúc ta cần.

Phạm Việt Hà

Tháng 10 năm 2014

Mơ thu

“Ta mơ thấy em ở nơi kia xa lắm

Một Hà Nội ngây ngất nắng

Một Hà Nội run run heo may…” Phú Quang

 Sáng sớm đi làm, gió heo may se lạnh, Thu đang nấn ná và Đông còn đủng đỉnh mơ màng đâu đó chưa về, đường vắng và người đi còn thư thả, gió lùa vào tóc nghe như tiếng ai gọi ở xa. Bỗng thấy run run lạnh, tự trách không mang thêm cái khăn lụa quàng vai hay khoác hờ một cái áo len thu thật mỏng. Thời khắc chuyển mùa mỏng manh và dịu dàng như rượu sữa, nhấp ngụm đầu thấy ngọt, ngụm thứ hai thấy cay, ngụm thứ ba đã say mơ màng ngây ngất.

Trưa, nắng chan chứa long lanh khắp ngả, chút gió đầu ngày đi đâu mất, trời ấm và khô đủ để mặc một cái váy cotton mỏng manh mà không thấy lạnh, cũng không bị đổ mồ hôi. Quán xá vỉa hè chật những người ăn, nắng vàng thế, trời xanh thế, ai không muốn ra ngồi  giữa trời ngắm chút phố cuối thu.

Thu sắp hết, lá phượng đã bắt đầu úa vàng, tối đi làm lá xào xạc rụng như mưa xuống phố. Bàng cũng đã chín dẫu lá vẫn còn xanh, nhưng bọn trẻ không đứa nào thèm ăn quả bàng mẹ nhặt, cũng chẳng thấy ríu rít lạch cạch tiếng đập hạt bàng quanh gốc cây như những ngày xưa. Giờ hạt bàng rang muối bán đầy trong siêu thị, chúng đâu thèm kỳ cạch làm gì.

Dạo này tôi rất hay mơ, những giấc mơ nhiều khi thân thiết dịu dàng. Hôm thấy mình chạy trong vườn rau cải hoa vàng rạp theo chiều gió thổi, hôm lại mơ đang len lỏi giữa những gốc chuối tiêu trong khu vườn của mẹ tìm chuối lẻ chín sớm, hay đang kéo nước giặt áo quần bên cái giếng có cây chanh nở đầy hoa thơm phức giữa vườn rau. Những giấc mơ luôn đầy màu sắc, rõ ràng như thật, những người thân của tôi trong mơ tươi cười vui vẻ, bố đạp xe vác cần đi câu, mẹ vừa nghe đài vừa khâu áo ngày chủ nhật, bà ngoại ngồi chải tóc vấn lên đầu thành vòng giữa sân, chị em tôi cầm kiếm làm bằng cọng  chuối đấu nhau chạy từ sân sau lên tận hè sân trước. Tỉnh dậy, thấy thèm tiếc những giấc mơ thu biết mấy, thấy tuổi thơ năm nào như ùa về mê mải, nửa hư nửa thực.

Cũng có khi tôi mơ thấy những điều khiến tôi thảng thốt. Tôi đạp xe dạo dọc những con đường nhỏ ở Đà Lạt, dọc theo những hàng đào xuân nở hoa như đám mây hồng, bỗng nhìn thấy anh Mai mặc quần xanh hải quân áo sơ mi trắng sơ vin là thẳng tắp, trẻ như hồi hai anh em còn đang đi học ở trường Tổng hợp. Anh nhảy lên cỗ xe ngựa kéo với những người lạ mặt đang nói cười vui vẻ, vừa đánh ngựa đi vừa rối rít vẫy tay chào tôi và hét “Anh đi cưới vợ đây, bảo mẹ anh đừng buồn nữa nhé!”. Tôi cố đuổi theo anh mà ngựa chạy đi nhanh quá, cả nụ cười anh cũng mờ trong đám sương sớm kéo lên từ thung lũng đằng xa. Tôi gào lên gọi “Chờ em với!” mà anh đã khuất mất rồi. Hôm trước giỗ anh, tôi kể chuyện cho bác gái, bác lặng người rồi cầm tay tôi khóc. Bác bảo, hồi nó chết, bác còn chẳng biết nó đã yêu chưa.

Thu của tôi năm nay dịu dàng như thu cũ, có hoàng lan và ngọc lan thơm những con đường, có trà sen với bánh cốm mới xào, có bạn thân thi thoảng ngồi với nhau ăn một bữa cơm hàn huyên đủ chuyện. Bạn bảo bọn mình mấy chục năm cùng học rồi lại cùng làm, giờ tuy mỗi thằng mỗi ngả nhưng vẫn trọng nhau thương nhau như thời còn  son trẻ, thế đã là rất nhiều. Tôi cũng thực thấy thế đã là rất nhiều cho mấy đứa chúng tôi. Chỉ là mỗi thu qua, thấy mình già đi mà không khôn ngoan thêm được. Thôi thì cứ khát khao, cứ ngờ nghệch khi còn có thể, rồi xem sẽ thế nào.

Thu này tôi không vào thăm mẹ, cũng không cầm được cái bánh cốm nào vào gửi cho bà. Trà sen bà không còn uống vì mất ngủ. Những lúc đứng ở ban công ngắm trăng, tự dưng nhớ ngày xưa mẹ trải chiếu ra hè sân trước, ba đứa nằm quanh mẹ, tểnh tang ngắm sao lấp lánh trong đêm và nghe mẹ kể chuyện thần Nông, sung sướng an bình như khó nhọc chưa từng đi qua đời mẹ, chưa từng chạm tới những đứa trẻ được mẹ trở che. Giờ tôi chịu không biết chùm sao nào là sao nào nữa, chỉ nhớ cái cảm giác tuyệt vời khi rúc vào tóc mẹ, và mùi lá bưởi bồ kết thoảng thơm. Tối nay Nguyệt Thực, tôi trực lớp học ở trường, cùng thầy giáo cho bọn trẻ lên tầng 5 ngắm Trăng Rằm đang bị Gấu ăn, cả bọn cười rúc rích vì cô kể chuyện vô lý đùng đùng, còn bảo bọn con biết thế nào là Nguyệt Thực từ lâu rồi nhé. Cô cũng cười vì cô còn khờ hơn cả hội trẻ con.

Thêm một mùa thu nữa, và những giấc mơ của tôi vẫn chưa hết run rẩy trong gió heo may!

Phạm Việt Hà

Tháng 10 năm 2014

Bài viết cho Tạp chí Tư vấn và Tiêu dùng số ngày 5 tháng 11 năm 2014