Ông Són

Tôi thường bị ám ảnh rằng Thượng đế là một nàng chanh cốm đỏng đảnh chuyên tạo ra những con người, những số phận khác nhau.

Có lẽ ông Són được Thượng đế tạo ra khi nàng quyết định thử nghiệm món mới. Nàng lấy năm phần rưỡi Bá Kiến, hai phần Lão Hạc, một phần Chí Phèo, phần rưỡi giáo Thứ, một hạt trí tuệ, một gói mỉa mai, ba cục may mắn đổ vào nồi. Bỗng phởn, nàng cho thêm ba thìa tiêu bắc, bốn thìa ớt khô, hai muỗng mắm cáy, một chút đường, bốn con dao Gillette, hai cọng lông gấu đen, ba cốc rượu quốc lủi và một cái Ipad chính hãng. Tất tật được cho vào máy xay cho thật nhuyễn, được nàng trộn, nhồi, đập rồi nặn thành hình người bỏ vào lò nướng. Chẳng may, nàng lơ đễnh vặn lửa hơi quá, nên cái hình người bị bén nham nhở, cong cong, nhọ nhọ.

Lần đầu gặp ông Són, tôi giật mình nghĩ đến con cá nục choắt kho khô với nước hàng và chè xanh trong bếp ăn tập thể trường Cao đẳng Sư phạm Vinh. Miệng ông Són nhỏ, nhọn hoắt với đám râu dê rõ rậm, dày, dài và đen. Đôi mắt nhỏ hấp háy đánh đu ngang dọc phía dưới hai vệt lông mày sâu róm. Cái đầu nhỏ hình ngũ giác đầy mấu và rất ít tóc của ông chứa đủ các loại từ ngữ, hình ảnh và tiểu xảo đủ để khen, để chửi, để nâng lên hay quật xuống, để móc máy hay xóc óc tất tật mọi loại người. Dẫu chưa được nhìn, nhưng tôi đồ rằng lưỡi ông cũng sắc hởn như dao gọt cau, não ông có tới dăm cục sỏi và da ông dày như da gấu.

Mùa hè, ông Són diện áo phông đầu lâu điện giật, khăn hoa đỏ buộc túm, quần thùng, túi hộp bắt gà ngắn tũn, chòi ra hai chân cà khẳng như tăm cật. Mùa đông, ông mặc lùng thùng đủ thứ quần áo trong dài ngoài ngắn, cái nào cũng bân bẩn cu cũ, cái nào cũng to gấp rưỡi cỡ người ông. Thế mà gần đây thấy trên nhiều báo thời trang, thanh niên ta đua nhau ăn mặc theo mốt ấy. Có hẳn dăm bài báo nói về phong trào Layers và Rocker Fashion mới rộ trở lại bên Hàn Quốc đang văng vãi tung tóe quần áo sang tận Việt Nam. Mấy thằng cha nhà báo đúng là không nhìn thấy Thái Sơn ngay trước mặt, cứ ra quán Avatar mà xem, Layers với Rocker fashion được ông Són diễn cả nửa chục năm nay ở đó rồi. Mà cũng có thể, ông Són thò tay sang tận Nhật với Hàn trong những chuyến buôn xuyên lục địa của mình, ngoắc cổ và truyền cảm hứng cho mấy thằng cha thiết kế gia đang bí ý tưởng ở đó. Nhưng cũng có thể, nhà ông đang kỳ thiếu thốn, nên ông diện áo của con cho nó tiết kiệm. Hoặc giả ông thích ăn mặc thế cho bọn ma cô ngoài đường tưởng ông là anh chất nghệ nghèo tiền mà không lởn vởn phiền ông.

Năm phần rưỡi Bá Kiến trong ông tham tiền của và tài năng, thích hưởng thụ và gây ảnh hưởng. Túi ông lúc nào cũng cồm cộm cả nắm tiền mới cứng. Ông vác Leica, Ipad, Iphone lượn phố cho công chúng cả thèm. Ông mua hẳn một dàn trống Tây về để ở nhà ông để thỉnh thoảng ghõ inh tí oảng. Ông kết giao với đại gia và hoa hậu. Ông khoe ảnh nhà ông đi lượn, đi chơi khắp các nước gần xa. Nạn nhân của ông thôi thì đủ loại, từ nàng trí thức mắc bệnh hoang tưởng đến anh nhiếp ảnh háo danh, từ cha siêu máy tính đến em chân dài sành điệu lừa tình điệu nghệ hơn cả Điêu Thuyền, từ loại đực rựa 100% máu gái đến lũ ba phần xăng bẩy phần nhớt mê trai. Cái lũ ấy thèm được nghe ông chửi kẻ khác, được ông ban cho dăm ba lời bình ảnh, bình văn hay bình máy, được ông giúp việc này, hỏi hộ việc kia. Ông cũng thấy mình cao cấp hơn hẳn cái bọn mạt hạng không biết thế nào là Leica M6 Platin hay iPhone 4 32GB, hơn hẳn cái bọn chẳng quen hoa hậu cũng chẳng biết Vũ Anh, hơn hẳn cái lũ chẳng biết nhịp trống 1/4 khác nhịp 4/4 ra làm sao, hơn hẳn cái lũ chưa từng đến London hay Tibet. Cái phần Bá kiến trong ông hả hê thỏa mãn vì được là người quan trọng, là kẻ giật dây, đặt để người này kẻ khác trong những cuộc chơi. Ông tự gọi mình là Ông, với hẳn chữ Ô viết hoa to tướng.

Cũng cái phần Bá Kiến sỏi sạn ấy xui ông chớ có coi ai là bạn, cũng chẳng việc gì phải nể mặt những kẻ háo danh, ngu độn hay đạo đức giả. Ông công khai chửi những người ông không thích, cả những người ông thích. Mà ông chửi rõ là đắt và rõ là ngoa, vừa như vỗ vào mặt, vừa như xóc vào sườn. Thế nên chẳng mấy “thằng”, mấy “con” đánh đu được với ông quá 2 năm, vì trước sau gì cũng bị ông chửi hoặc lừa mà hất xuống hố vôi, sẽ bị ám, sẽ tởn mà chạy xa cho sớm. Phải vạ, đứa nào yếu bóng vía có khi bị ám ảnh đến già.

Nhưng mà ông Són không chỉ có cái phần Bá Kiến. Dẫu cố sống cố chết không để lộ, thì cái phần lão Hạc mộc mạc, thủ cựu, liều mình giữ đất cho con vẫn thập thò. Ông chăm sóc hai thằng con trai từ ăn, mặc, học đến cả chuyện chơi bời, yêu đương đều cẩn thận. Dẫu cái lũ chân dài đến nách có mời gọi, ỷ ôi, dẫu thỉnh thoảng vẫn tơ tưởng được lên tiên, cuối ngày ông vẫn về ăn cơm nhà với vợ. Đứa nào mà động đến vợ con, người nhà ông thì đừng có bảo, Són sẵn sàng liều mình với chúng. Nghe Tây nó đồn, ông Són tham thế, sỏi thế, cướp tiền thiên hạ giỏi thế, nhưng chuyện trong nhà, ông nhất nhất tề gia bằng hòa khí. Cũng nghe giang hồ đồn đại, ông từng bần thần khi thằng con hỏi: “nghề lừa đảo khó không hả bố!”. Dẫu rách trời rơi xuống đất, ông vẫn chạnh lòng sợ con nghĩ xấu về mình, vẫn sẵn lòng chạy một mạch từ Nam Cực về Hà Tĩnh để xem ông cụ thế nào lúc ốm đau. Thế nên đẫu ông vừa già vừa xấu tính, bà vợ và lũ con vẫn tâm phục khẩu phục chịu đựng ông.

Cái kiểu ăn mặc, cái dáng đi khật khừ, cái giọng bất cần, cái nết bạ đâu chửi đấy, cái bộ dạng vênh vênh tỏ ra ông ếch cần ai, cái thói rạch mặt ăn vạ khi cần của ông Són đích thị là của Chí. Và cũng giống cậu Chí, Ông Són thực ra vẫn cần, vẫn sợ, vẫn thèm có bạn, vẫn muốn yên lành. Xem cách ông khư khư ôm cái Leica như ôm hũ rượu, cái kiểu cười khục khặc, cái cách ông gặm sồn sột chân chó lúc ngồi nhậu, ai dám chối là ông không có quan hệ gì với Chí.

Tôi biết ông Són lần đầu, khi nghe chồng tôi kể chuyện về một người tự cho rằng “ sống thật với mình đã là không bình thường”. Tôi nể mến ông hơn khi chồng gặp nạn ở nước người, tôi khóc dở mếu dở gọi người này người nọ. Máy điện thoại có roaming, mà họ sợ tốn tiền không bắt máy. Rồi tôi nhận tin nhắn từ số máy lạ rằng chồng tôi vẫn bình yên, dẫu chạy vội quá rơi mất một cái quần đùi. Ông Són đã chẳng tiếc tiền mà nghe tôi gọi điện, để chồng tôi nhắn tin cho vợ mỗi giờ. Nhờ thế mà tôi không thở hắt từng cơn, bố tôi không lên huyết áp, và mẹ tôi không phải khóc sụt sùi. Ông Són tích sô-cô-la và nước, chia đều cho cả anh xã nhà tôi. Vậy nên, dẫu ông tưng tửng “ Thi thoảng, mày cũng phải cho gái đẹp thiên hạ nó thưởng chồng mày tí chứ!” lúc tôi đang lồng lên như “giàn thiên lý bị đứa khác nó tè vào gốc”, thì tôi vẫn câm miệng cúi đầu. Tôi biết cái nọc Bá Kiến của ông không hạ được anh Giáo Thứ, rằng miệng ông thế, nhưng ông vẫn mong chồng tôi không bị “đi tù tươi”, tôi không phải đóng vai người quản ngục bất đắc dĩ, và lũ con tôi cười trong vắt.

Đọc đến đây, hẳn ông Són sẽ văng tục “Mẹ nó chứ, gặp mình được mấy lần mà nói như đúng thật!”. Ông hẳn đúng. Vì những điều tôi viết về ông chỉ là cái cảm nhận của một kẻ ngu muội không biết phân biệt Ipod với Iphone, trước một tạo vật tinh vi của Thượng đế.

 

Phạm Việt Hà

15 tháng 9 năm 2010

Advertisements

Bạn cũ

Ngôi nhà mơ ướcCuộc sống vốn dĩ là một chuyến đi dài mà mỗi người chỉ được đi một lần. Chuyến đi ấy khi qua rừng, lúc vượt biển, khi an nhàn ngồi xe hơi máy lạnh chạy ro ro, lại có chặng gối mỏi chân chùn không muốn bước.

Mẹ tôi từng bảo: “Con đừng nhìn lại phía sau nhiều quá, bởi người nhìn lại phía sau nhiều, sẽ dễ quên mất con đường mình cần đi phía trước.”

Có thể mẹ  không biết, mỗi lần nhìn lại phía sau, là mỗi lần tôi thấy một bức tranh hoàn toàn khác với cái nhìn được trước đây, là mỗi lần tôi biết ơn những người đã cùng tôi đi qua một chặng đường, xách hộ túi hành lý nặng, đỡ tôi lên lúc vấp ngã, dạy tôi những bài học nhớ đời. Sau mỗi lần nhìn lại, là mỗi lần tôi có thêm can đảm mà đi tiếp, hiểu hơn bản thân mình và nhìn rõ hơn nơi tôi cần đến.

Thế nên, tôi viết câu chuyện này, về những người bạn cũ, những người mà con đường đời của họ đã có lúc nào đó gặp con đường tôi đi, và dù sau đó, họ có chọn đi tiếp cùng tôi hay rẽ sang ngả khác, những gì họ để lại đã thay đổi cuộc đời tôi.

Hạnh

Lớp 12 tôi mới học cùng Hạnh. Hạnh vốn học ở ngoại thành, theo bố lên Hà Nội học nốt cấp 3 và luyện thi đại học. Hạnh hiền lành, ít nói, nhưng không đần đụt, bạn tôi biết lắng nghe và là người chịu nghĩ. Lên đại học, chúng tôi cùng học một khoa, những chuyện bí mật nhất của con gái, tôi đều kể cho Hạnh. Những ước mơ thầm kín, Hạnh cũng dám đỏ mặt kể tôi nghe. Chúng tôi dậy thì, yêu đương, trưởng thành cùng nhau.Tôi như lửa trời, mạnh và nóng. Hạnh như nước hồ trong vắt sáng mùa thu, soi vào để thấy mình dịu hơn, để thấy cuộc đời trôi chậm lại.

Ra trường, chúng tôi cùng đi dạy một trường, Hạnh lấy anh hàng xóm nhà tôi, còn tôi lấy anh hàng xóm cũ nhà bạn. Chính Hạnh làm mối ông xã cho tôi. Như sợi tơ hồng giăng trên cây nhãn, chúng tôi luôn gần gũi, quấn quít với nhau bởi những ràng buộc vô hình.

Càng lớn, tôi càng hiểu là rất khó để có một người bạn thực sự, người bạn chấp nhận mình như mình vốn thế, người bạn không chơi với mình vì lợi dụng được mình, mà chơi với mình chỉ vì mình là bạn. Vì những va chạm, hiểu nhầm và cả những bon chen trong cuộc sống, tôi đã mất đi không ít bạn. Nhưng Hạnh luôn hiểu cả những điều tôi nói và không nói được thành lời.

Quang Hải

 Hải học với tôi suốt những năm cấp 1 và cấp 2. Hải hiền lành, trắng trẻo, má phính có lúm đồng tiền. Tôi là lớp trưởng, nó là lớp phó. Tôi đầu têu đủ trò nghịch ngợm: từ lôi xác rắn chết bỏ vào cặp bạn, trèo vườn trộm ổi, nhổ rau cải vườn trường, đến cả nhẩy lên bàn đấm nhau với bọn con trai. Hải không tham gia bao giờ, nhưng luôn bao che tội lỗi cho tôi trước các thầy cô.

Bố Hải ghê gớm và không thích trẻ con. Mỗi lần chúng tôi lân la qua nhà bạn rủ đi học, đều sợ bị ông quát đuổi. Bố Hải lấy vợ hai, không yêu thương con vợ cũ, Hải luôn có cái vẻ tủi thân của kẻ không được ai che chở, nó luôn thèm được ai đó yêu thương. Tôi coi nó như thằng bạn hiền lành. Còn nó coi tôi người thân của nó.

Hồi lớp 6, tôi đánh nhau với Thắng trên đê La Thành vì nó dám lôi bố tôi ra chửi. Thắng to khỏe, đẩy tôi ngã lăn lông lốc xuống chân đê, thùng đựng lọ mực đang xách văng xa, mực đổ lên láng, mặt mũi bị cây gai cào xước máu. Hải không dám đánh Thắng, chỉ chạy xuống lấy tay quệt mặt cho tôi, rồi lẳng lặng xếp lại lọ mực, xách thùng xách cặp theo tôi về.

Lên cấp ba, Hải không học cùng tôi, cũng chẳng ở cùng khu phố cũ. Nó học yếu đi, cố gắng lắm mới thi đỗ vào được trường Giao Thông. Thi thoảng, hai đứa đạp xe ngược chiều trên phố, thể nào nó cũng phanh két, quay xe đuổi theo, mặt mũi đỏ phừng phừng, hỏi đủ thứ chuyện luyên thuyên rồi mới để tôi đi.

Nghe nói sau này Hải sang Nga. Nghe nói sau đó nó lại về Hà Nội. Chúng tôi bặt tin nhau.

Cái Hải đã cho tôi là tình bạn vô điều kiện,  là lòng trung thành non nớt, là cái nắm tay mùa đông của hai đứa trẻ dung dăng đi học, là nụ cười tươi buổi sáng mùa hè, là chút tình vô tư con trẻ, những thứ mà càng lớn lên, tôi càng ít thấy.

Chị Nguyệt Anh

Lần đầu tiên ra sân bay đi Úc học, cũng là lần đầu tiên tôi xa nhà kể từ lúc lấy chồng. Một chị mặt tươi hơn hớn, nắm tay một anh cũng hớn hở tưng bừng, dắt nhau tung tăng đi lại trong phòng đợi sân bay. Và vì đang giận chính bản thân mình đã bỏ chồng con mà đi, tôi âm thầm ghen ghét với cặp tình nhân đang phởn phơ yêu đương kia.

Ai ngờ, họ sau này thành những người bạn mà khi ở bên, tôi luôn thấy cuộc đời xung quanh rạng rỡ hơn nhiều.

Ở cái xứ con gì cũng to và cái gì cũng béo, tôi thèm mùi gió bụi lam lũ quê nhà, thèm chén chè nhài xanh biếc buổi sáng, thèm lời mẹ mắng trong bếp lúc chiều hôm. Dẫu có được ăn sung ở sướng, tôi thèm mùi con, thèm vòng tay ấm của chồng. Giống như con gà mẹ nổi cơn điên vì mất trứng, tôi khóc lóc sụt sùi, ủ ê suốt mấy tháng đầu.

Chị Nguyệt Anh học với tôi cùng trường. Chồng chị, từng học luật ở Úc, giờ sang làm việc tại tòa án ở Melbourne. Anh chị cám cảnh con mẹ nhà quê lên tỉnh, thường bỏ việc rủ tôi đi chơi cho đỡ nhớ nhà. Đi chơi chán, chị lôi tôi về nhà ngủ, vứt cho anh cái đệm con con để anh ra bếp ngủ với mèo. Mãi sau tôi mới biết, anh chị đã phải dịch cả trăm trang tài liệu dồn đống trong một đêm, chỉ vì bỏ việc dẫn tôi đi phố.

Vợ chồng anh chị giản dị, tốt bụng với bạn bè. Nhà có đồ gì ngon, anh chị mời cả hội sang ăn. Đồ bếp chưa mua đủ, chúng tôi mang cả bát đũa theo khi sang ăn cơm nhà chị. Suốt những năm học ở Úc, vợ chồng tôi không biết bao lần qua lại ăn cơm, cũng không biết bao lần phiền nhà anh chị.

Chị Nguyệt Anh học giỏi, làm còn giỏi hơn, nhưng lại chấp nhận bế con theo chồng đi khắp xứ. Chị hy sinh sự nghiệp của mình, để anh được sống cuộc đời anh muốn, làm công việc anh yêu. Vừa làm việc, chị vừa chăm con, lo việc nội ngoại, chăm chỉ và bền bỉ như một bà nội trợ chính tông. Chị làm từ thiện, giúp bạn bè, như thể đấy là lẽ dĩ nhiên phải thế, không hề cố gắng, không vẻ ta đây, cũng không ra bề cứu giúp. Chị dịu dàng, mềm mại, nhưng không ai dám bắt nạt. Chị nhân hậu, khoan dung, nhưng ít người dám lợi dụng. Những người xung quanh đều hiểu, chị thừa khôn ngoan để chẳng bị lừa, và thừa sắc sảo để không bị nạt.

Tôi biết nhiều người xuất sắc, biết rất nhiều người giàu có. Nhưng hình như càng thành đạt, người ta càng dễ lạc đường. Người ta quên mất con người chân thiện mình từng có, người ta quên tuổi xưa nghèo khó, người ta tự cho mình quyền đứng ở trên người.

Chị Nguyệt Anh là người đặc biệt, bởi mười mấy năm quen biết chị, tôi vẫn thấy chị như xưa, bởi từng ấy năm quen biết chị, nụ cười chị vẫn ấm áp, tự nhiên và nét mặt chị vẫn êm đềm, thư thả.

Mỗi lần bên chị, tôi lại được cười thật ấm, thật tươi.

Phản bội

6344_310789302360722_963836778_n“Câu chuyện dưới đây là hoàn toàn bịa đặt. Nếu vì lý do gì đó mà một số tên gọi, hình ảnh minh họa hay tình tiết giống với  nhân vật ngoài đời, thì đó chỉ là sự trùng hợp ngẫu nhiên”

Hồi học cấp ba, tôi thân với Minh Bờm,  được chứng kiến mối tình đầu của nó với cô bạn xinh đẹp đảm đang cùng lớp tên Mai.

Vậy mà tôi từng phản bội tình bạn của Minh.

Chuyện là hồi đó bố cho tôi năm trăm đồng mỗi sáng, đủ ăn một bát cháo sườn bà Sẻ trước khi đi học. Tôi thường nhịn, để dành tiền đến giờ ra chơi mua bánh rán. Bánh làm bằng bột sắn ngào đường, năm trăm đồng hai cái, đến đúng giờ ra chơi mới ăn, miếng nào ngọt lừ miếng ấy. Thế mà cứ đúng hôm tôi để dành tiền định mua bánh rán, là y rằng Minh ra vay mất. Nó lấy tiền bữa sáng của tôi để mua bánh trưng nịnh người yêu. Tôi cho nó vay mà lòng đau như cắt, đau thật vì đói, chứ không hẳn vì tức thằng bạn si tình.

Đúng hôm tôi đang đứng ở cửa lớp với nỗi đau quặn ruột, thì Sơn mũ đỏ đi tới. Sơn học trên chúng tôi một lớp, người phố Khâm Thiên. Nhà nó giàu sụ, có tới hai hiệu thuốc tây to đùng trên cùng một phố. Sơn lúc nào cũng diện cái mũ lưỡi trai màu đỏ có chữ MU, nên bị chúng tôi gọi là Sơn mũ đỏ. Sơn nhờ tôi đưa thư cho Mai. Nó vung vẩy túi ô mai Thái bọc ni-lông đỏ, bảo nếu tôi chịu đưa thư, nó sẽ cho tôi nguyên cả gói.

Tự nhiên, miệng tôi ứa đầy nước bọt. Ruột tôi réo thành cơn khi nghĩ tới vị chua chua ngọt ngọt của những hạt ô mai đang nhảy nhót trong cái túi đỏ hoa đào. Tôi không dám trả lời, mà cũng không nói nổi, vì chỉ mở mồm là phun đầy nước bọt ra ngoài. Ánh mắt tôi nhìn gói ô-mai viết thành hai chữ “phản bội” rõ ràng đến mức Sơn thản nhiên giúi lá thư màu xanh nhạt và gói ô mai vào tay tôi, rồi vừa huýt sáo vừa bước đi đắc ý.

Bức thư ấy chẳng làm Mai bỏ Minh, mà làm Minh lơ tôi liền mấy bữa.

Rồi nó cũng tha thứ cho tôi.

Minh và Mai cuối cùng thì cũng cưới, chỉ có điều là hai đứa chẳng cưới nhau. Mai lấy một anh đầu bếp, mở nhà hàng và kinh doanh nhà đất. Đứa con trai đầu, Mai đặt tên là Minh. Minh mới lấy vợ, trẻ và rất xinh. Nó giờ làm phóng viên một tờ báo ảnh của Vietnam Airline, tháng tháng đều đặn gửi báo biếu cho tôi bù chì bút chít cho những ngày xưa.

Tôi vẫn thân Minh, tuy thỉnh thoảng thấy tiếc là mình đã hy sinh vô ích những cái bánh rán ngào đường béo ngọt cho một mối tình không đậu quả.

Hà Nội, tháng 8 năm 2011

Phạm Việt Hà